Skip to content
Tags

Thế nào là “trẻ con cáo già” (bàn về thuật ngữ “selbstverschuldete Unmündigkeit”)

Tháng Hai 22, 2013

Tôi đã đọc các bài dịch ra tiếng Việt tiểu luận Was ist Aufklärung? của Kant trên talawas. Nhận xét của tôi là: ngay từ đầu, các dịch giả đã gặp khó khăn trong việc chuyển sang tiếng Việt khái niệm “selbstverschuldete Unmündigkeit”, một khái niệm xuất hiện ngay từ đoạn mở đầu (tôi đồng ý với TS. Thái Kim Lan, rằng đoạn mở đầu cũng chính là đoạn quan trọng nhất trong tiểu luận) và được Kant sử dụng để định nghĩa khái niệm “Khai sáng” (Aufklärung). Khó khăn trong việc chuyển sang tiếng Việt khái niệm đó có nguyên nhân nằm trong chính bản chất triết học của khái niệm này. Ngay trong bản tiếng Đức, khái niệm “selbstverschuldete Unmündigkeit” là một khái niệm mới về mặt triết học. Vì thế, ngay sau khi đưa nó ra, Kant đã định nghĩa rất là chi tiết.

Đầu tiên, chúng ta thử làm một bản dịch “nháp” của định nghĩa này: “Khai sáng là sự giải thoát con người ra khỏi selbstverschuldete Unmündigkeit. Unmündigkeit là sự không có khả năng sử dụng lý trí của chính mình mà không cần đến sự chỉ bảo của người khác. Cái Unmündigkeit đó được gọi là selbstverschuldet khi mà nguyên nhân gây ra nó không phải là sự kém cỏi về mặt lý trí mà là sự thiếu quyết đoán và dũng cảm để sử dụng lý trí của chính bản thân mình không cần người khác phải chỉ bảo. ”

Cái còn lại chưa được dịch trong trong bản dịch “nháp” đó chính là thuật ngữ “selbstverschuldete Unmündigkeit”. Tôi vừa làm một việc rất thông thường trong quá trình dịch thuật, đó là phải hiểu được khái niệm trước khi tìm một thuật ngữ thích hợp biểu đạt nội dung khái niệm.

Tiếp theo là một công đoạn cực kỳ cam go là tìm thuật ngữ trong tiếng Việt để biểu đạt khái niệm “selbstverschuldete Unmündigkeit” đó. Hãy bắt đầu bằng từ “Unmündigkeit”. Từ đó trong tiếng Đức có nghĩa thông thường là chưa trưởng thành về mặt lý trí. Kant đã chính xác hoá về mặt triết học cho từ này bằng định nghĩa đã nêu trong phần dịch “nháp” ở trên. Như vậy, một con người, bất kể là anh ta già hay trẻ, có tri thức hay vô học, nếu anh ta không có khả năng sử dụng lý trí của chính bản thân không cần đến sự chỉ bảo của người khác, thì bị xem như là “unmündig” về mặt triết học (theo định nghĩa vừa nêu của Kant). Thế thì rõ ràng là các từ như là “vị thành niên”, “không trưởng thành”, “lệ thuộc” đều không diễn tả được khái niệm triết học mà Kant muốn chuyển tải trong thuật ngữ “Unmündigkeit”.

Trong tiếng Việt có một từ có vẻ như là chuyển tải được khái niệm đó, đấy là từ “trẻ con”. Để ám chỉ một người nào đó chưa trưởng thành về lý trí chúng ta thường nói “ông ta trẻ con quá”. Không ai nói là “ông ta chưa trưởng thành quá” hay là “ông ta vị thành niên quá”. Do đó tôi cho rằng từ “trẻ con” là từ tốt nhất trong tiếng Việt có thể biểu đạt được một phần khái niệm “Unmündigkeit” theo như định nghĩa của Kant.

Bây giờ, chúng ta sẽ giải bải toán khó hơn là tìm từ tiếng Việt biểu đạt cho thuật ngữ “selbstverschuldete Unmündigkeit”. Nếu đứng riêng một mình, thì từ “selbstverschuldet” trong tiếng Đức có nghĩa thông thường là “tự mang nợ vào thân” hay rộng hơn một tý là “tự mang họa vào thân”. Tất nhiên, khi được sử dụng như một thuật ngữ triết học và được đính kèm để bổ nghĩa cho một thuật ngữ triết học khác, từ “selbstverschuldet” cần phải được định nghĩa chính xác về mặt triết học. Cho nên, Kant đã đưa ra định nghĩa rất chặt chẽ và logic cho khái niệm “selbstverschuldete Unmündigkeit” như đã nêu trong bản dịch “nháp” ở trên. Công việc tiếp theo là đi tìm từ tiếng Việt đi kèm với từ “trẻ con” để tạo thành một cụm từ biểu đạt cho khái niệm “selbstverschuldete Unmündigkeit”. Việc đó, theo tôi, là không thể nào thực hiện được nếu chúng ta không đọc hết toàn bộ bài luận của Kant để hiểu thực chất hơn “selbstverschuldete Unmündigkeit” là gì.

Sau khi đọc toàn bộ bài văn, chúng ta hiểu được rằng khai sáng không chỉ là đem ánh sáng của tri thức đến cho những người còn tối trí. Đối tượng chính của khai sáng chính là những người có lý trí, nhưng họ không có sự quyết đoán và lòng dũng cảm để sử dụng chính lý trí của mình một cách độc lập. Họ chỉ muốn ở lại trong trạng thái “unmündig” để được yên ổn suốt đời. Bằng những lập luận sắc bén, Kant đã chứng minh rằng sự yên ổn đó của bản thân họ có tác động tai hại là làm cản trở sự phát triển của xã hội. Vì thế họ cần phải được khai sáng.

Như vậy nhiệm vụ của chúng ta là phải tìm được một từ tiếng Việt để chỉ tính chất của những người chỉ biết sử dụng lý trí của mình với mục đích yên thân, bất chấp xã hội vì sự yên thân của họ mà cứ trì trệ mãi. Lập tức tôi liên tưởng ngay đến loài cáo (tôi vốn là sinh viên ngành sinh học). Thế là tôi có ngay từ “cáo già”. Tất nhiên thuật ngữ “trẻ con cáo già” chỉ biểu đạt được một phần khái niệm triết học “selbstverschuldete Unmündigkeit” như Kant đã định nghĩa. Tôi hy vọng sẽ có những dich giả tìm ra những thuật ngữ tốt hơn để biểu đạt khái niệm đó.

Cuối cùng tôi xin viết ra lời dịch đoạn mở đầu (và quan trọng nhất) trong bài luận Was ist Aufklärung?của Kant:

Khai sáng là sự giải thoát con người ra khỏi trạng thái trẻ con cáo già. Trạng thái trẻ con là sự không có khả năng sử dụng lý trí của chính mình mà không cần đến sự chỉ bảo của người khác. Trạng thái trẻ con đó được gọi là trạng thái trẻ con cáo già khi mà nguyên nhân gây ra nó không phải là sự kém cỏi về mặt lý trí mà là sự thiếu quyết đoán và dũng cảm để sử dụng lý trí của chính bản thân mình không cần người khác phải chỉ bảo. Sapere aude! Hãy dũng cảm sử dụng lý trí của chính bản thân bạn! Đó cũng chính là phương châm của khai sáng.

Advertisements

From → Lý luận

Gửi bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: