Skip to content

Về việc Trung Quốc đưa giàn khoan HD – 981 vào Biển Đông

Ngày 1/5/2014 Trung Quốc đưa dàn khoan HD-981 vào thăm dò tại vùng biển cách đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa là 17 hải lý và cách bờ biển Việt Nam 120 hải lý. Lý luận của Trung Quốc là: “Hoàng Sa là của Trung Quốc (sic!)” nên vị trí đặt dàn khoan gần địa phận Trung Quốc hơn rất nhiều so với bờ biển của Việt Nam.

Việt Nam đã phản đối rất quyết liệt, cho rằng vị trí đặt giàn khoan nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, hay ít ra là nó đang nằm trong vùng có tranh chấp nên không thể đơn phương khai thác. Việt Nam đã đưa các tàu cảnh sát biển ra để thuyết phục Trung Quốc dời giàn khoan đi, gặp phải đội tàu của Trung Quốc, hai bên va chạm và tình thế giằng co, Trung Quốc vẫn chưa chịu rút dàn khoan đi. Trung Quốc chỉ khẳng định sẽ rút đi vào tháng 8, sau khi kết thúc việc thăm dò. Việt Nam cũng đã đưa vấn đề HD – 981 ra cuộc họp thượng đỉnh của khối Asean, đồng thời gửi công hàm phản đối lên Liên Hợp Quốc. Phần lớn các chuyên gia, học giả, và một số quan chức trong nước và quốc tế đều nhận định đây là hành động mang tính khiêu khích và khó hiểu của Trung Quốc. “Khiêu khích” là bởi vì bản thân quần đảo Hoàng Sa vẫn còn trong vòng tranh chấp, và ngay cả khi nếu giả thiết rằng đảo Tri Tôn là của Trung Quốc thì vị trí giàn khoan là cách nó 17 hải lý, đó là một khoảng cách lớn hơn 12 hải lý, nên không thuộc vùng lãnh hải nội thủy để có thể quyết định đơn phương được (đây là chưa nói là đảo Tri tôn có thể chưa đủ điều kiện để xem là vùng lãnh thổ).  “Khó hiểu” là vì việc đưa giàn khoan vào vị trí đó để thăm dò gần như không mạng lợi ích kinh tế chính trị gì cả, mà còn làm căng thẳng quan hệ với Việt Nam và các nước trong khu vực và làm xấu đi hình ảnh Trung Quốc trên trường quốc tế khi đơn phương hành động bất chấp luật pháp quốc tế như vậy.

Một số giả thuyết đã được đưa ra để giải thích sự khó hiểu này. Tôi xin điểm qua và phân tích như sau:

1) Bắc Kinh đang cần một căng thẳng bên ngoài để xoa dịu những khó khăn bên trong. Những khó khăn đó là căng thẳng Tân Cương, khủng bố, kinh tế chậm tăng trưởng, thậm chí có dấu hiệu khủng hoảng cục bộ, tham nhũng, đấu đá quyền lực nội bộ, vv.. Việc gây ra một căng thẳng ngoại vi để thắt chặt đoàn kết nội bộ, đoàn kết người dân với chính quyền là một chiêu mà Bắc Kinh vẫn hay sử dụng.

2) Trung Quốc muốn khẳng định chủ quyền về đường lưỡi bò, để làm bá chủ biển đông và mở lối ra ở Đông nam, khi mà lối phía đông đã bị bịt kín bởi Mỹ và đồng minh. Và đây chính là thời điểm hợp lý để thực hiện thêm một bước chiến thuật vết dầu loang vốn đã được tính rất kỹ từ lâu và bắt đầu khởi sự từ những năm 1958 khi họ ép buộc chính phủ Việt Nam DCCH phải ký công nhận lãnh hải của họ và chớp thời cơ vào năm 1974 chiếm quần đảo Hoàng Sa từ tay Việt Nam CH.

3) Trung Quốc muốn thử độ phản ứng của Mỹ và độ trung thành của Việt Nam để đưa ra những chính sách sắp tới. Việc quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam đang dần được cải thiện thực sự làm Trung Quốc lo ngại. Trung Quốc muốn trắc nghiệm xem quan hệ Mỹ-Việt đã ấm đến mức độ nào nên mới tung ra một chiêu để thử phản ứng của Mỹ. Và cái họ đạt được là rất đáng kể, Mỹ chỉ phản ứng hời hợt, kêu gọi hai bên kềm chế, tránh xảy ra nổ súng. Qua đó, Trung Quốc nhận ra người đàn em Việt Nam vẫn chưa xích lại quá gần với Mỹ. Hơn nữa, việc Việt Nam không khởi kiện Trung Quốc lên Liên Hợp Quốc về giàn khoan HD-981 và chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, luôn giữ vấn đề trong vòng đàm phán song phương cho thấy tấm lòng của Việt Nam với bậc đàn anh phương Bắc vẫn còn sắt son lắm.

Tuy nhiên, có lẽ Trung Quốc chưa lường hết được phản ứng của người dân Việt, xưa nay luôn có một lòng quyết tử cho sự sinh tồn của Tổ Quốc. Việc làm của Trung Quốc vô hình chung đã khơi dậy tính tự tôn dân tộc vốn đã bị lu mờ đi vì ý thức hệ cộng sản kìm chế lâu ngày. Tình hình mấy tuần qua cho thấy sự việc bây giờ đã trở nên khó lường hơn, và tôi rất hy vọng, nhân dân Việt Nam sẽ tỉnh hẳn người sau cú hích này và sẽ cho Bắc Kinh một bài học đáng giá.

Myanmar: Cuộc cách mạng vẫn còn tiếp diễn

Quách Hoàng Lân chuyển ngữ  từ Nguồn:  http://amanpour.blogs.cnn.com/2013/05/20/myanmar-a-revolution-in-progress/?iref=allsearch

Đó là phép màu Myanmar.

Hay đó là niềm hy vọng cho đất nước gần 50 triệu dân nằm giữa các cường quốc châu Á là Ấn Độ và Trung Quốc. Chỉ ba năm trước đây, Myanmar đã bị cai trị một cách tàn bạo bởi một trong những chính quyền quân phiệt nhất trên thế giới, ngày hôm nay, Myanmar đã trở thành một nền dân chủ non trẻ đầy hứa hẹn.
Trong nhiều thập kỷ, Myanmar, còn được gọi là Miến Điện, đã được biết đến thông qua cuộc đấu tranh anh hùng của Aung San Suu Kyi, người đã đoạt giải Nobel và đã trải qua hơn 15 năm bị quản thúc tại gia, bị cách ly khỏi chồng và con trai của mình bởi những viên cai ngục quân sự.

Nhưng  bà  tiếp tục cuộc đấu tranh để cải cách đất nước bị cô lập với thế giới bên ngoài,  và bây giờ khát vọng của bà đang dần trở thành hiện thực với tốc độ đáng kinh ngạc.

Bà có thể là biểu tượng của nền dân chủ tại Miến Điện, nhưng đất nước của bà giờ đây đã điền thêm tên một người nữa vào biểu tượng của cải cách: Tổng thống Thein Sein. Ông đang có chuyến công du ở Mỹ để  hội ngộ với Tổng thống Obama – lần đầu tiên một nhà lãnh đạo Miến Điện đã đến thăm Nhà Trắng kể từ năm 1966.
“Bản thân tôi rất ngạc nhiên trước tốc độ cải thiện của mối quan hệ song phương của chúng ta“- Tổng thống Thein Sein nói với phóng viên Christiane Amanpour của CNN trong một chương trình truyền hình đặc biệt vào chủ nhật- “Nhưng không có bạn bè nào là vĩnh viễn hay kẻ thù nào là vĩnh viễn trong các mối quan hệ quốc tế.”

Trong tháng 11/2012, Tổng thống Obama đã trở thành nhà lãnh đạo đầu tiên của Mỹ đến thăm Myanmar. Vào thời điểm đó, ông đã thừa nhận rằng đất nước Myanmar đang cố gắng để tiến lên.
“Tôi không nghĩ rằng bất cứ ai và dưới bất kỳ ảo tưởng nào có thể cho rằng Miến Điện đã về đích, rằng họ đã đạt được cái cần phải đạt được”-Obama nói trong tháng 11 –  ”Mặt khác, nếu chúng ta cứ chờ cho đến khi họ đã đạt được một nền dân chủ hoàn hảo rồi mới bình thường hóa quan hệ với họ, thì tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ phải chờ đợi một thời gian dài khủng khiếp nữa.“

Mặc dù Myanmar đã thực lòng thay đổi, tự do hóa kinh tế, dỡ bỏ việc kiểm duyệt báo chí, và tiến tới nền dân chủ đại nghị, một số vấn đề chính yếu vẫn  tồn tại. Vẫn còn hiện hữu sự nghèo đói, buôn bán ma túy, tham nhũng và sự bùng nổ của bạo lực sắc tộc, đặc biệt là những cuộc tấn công và thảm sát vào người Hồi giáo thiểu số trong một đất nước gồm đa số Phật giáo.

Các nhân sỹ của nhóm nhân quyền hôm nay đã cáo buộc lực lượng chính phủ và an ninh đứng yên không ngăn cản những vụ thảm sát, và kêu gọi một cuộc điều tra độc lập về các vụ giết người.

Tổng thống Thein Sein đang công du ở Washington với hy vọng rằng  người Mỹ sẽ dỡ bỏ nốt một số biện pháp trừng phạt kinh tế vẫn còn áp đặt lên Miến Điện.

Ngay bây giờ, Hoa Kỳ và Trung Quốc đang tranh dành ảnh hưởng tại Myanmar, mặc dù Tổng thống Thein Sein có ý không thừa nhận điều đó.

“Tôi phải nói rằng không có sự cạnh tranh giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Chính sách đối ngoại của chúng tôi là chúng tôi duy trì quan hệ hữu nghị với tất cả các nước trên thế giới, và sẽ tiếp tục duy trì quan hệ hữu nghị với Trung Quốc. Cùng lúc đó, chúng tôi sẽ cố gắng để duy trì và cải thiện quan hệ của chúng tôi với Hoa Kỳ,” ông nói với Amanpour.

Trung Quốc đang lo lắng. Họ đang tiến hành một hoạt động quan hệ công chúng chưa từng có trong nội địa Myanmar để thuyết phục mọi người rằng tất cả các khoản đầu tư của họ cũng sẽ có lợi cho Myanmar.

“Trung Quốc tiếp tục là hàng xóm thân thiện của chúng tôi“, Tổng thống Thein Sein cho biết.

Trong nhiều năm, chính quyền quân sự đã được biết đến như một trong những thể chế đàn áp tàn bạo nhất trên thế giới, bây giờ Tổng thống Thein Sein ngân lên một giai điệu hoàn toàn khác.
“Là một trong những công dân của Myanmar, tôi đang cố gắng hết sức mình để thực hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân”-ông nói- “Chúng tôi có một chính phủ lập hiến  cùng với đó là các nghị viên được bầu ra một cách dân chủ. Vì vậy, nhiệm vụ của chính phủ là thực hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Những cải cách mà chúng tôi đang khởi tạo là ý muốn của đa số người dân. “

Mặc dù bà Aung San Suu Kyi đã bị quản thúc tại gia trong nhiều năm dưới chế độ của Tổng thống Thein Sein, hiện nay ông đang làm việc với bà ấy.

“Khi tôi gặp bà ấy, chúng tôi đã cố gắng để đạt được một số điểm tương đồng vì lợi ích của nhân dân và đất nước. Vì vậy, chúng tôi đã đồng ý với nhau trên nhiều điểm. Đồng thời, chúng tôi cũng có quan điểm khác nhau trên một số vấn đề”-Tổng thống Thein Sein cho biết-“Nhưng chúng tôi đã có thể đồng ý rằng chúng tôi sẽ gác lại những bất đồng và giải quyết sự khác biệt của chúng tôi thông qua đàm phán.”

Aung San Suu Kyi nói với Amanpour trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 9 năm ngoái rằng là bà không bao giờ thù hận những gì chính quyền đã làm đối với bà ấy.

“Đó là chính trị. Tôi rất thích vị các tướng. Tôi có khuynh hướng yêu mến mọi người. Tôi luôn luôn hòa thuận với những quân nhân. Bạn đừng quên  rằng cha tôi là người sáng lập ra quân đội Miến Điện,” bà cho biết.

Trong hơn một năm, đã có một sự bùng nổ bạo động nhắm vào người Hồi giáo Rohingya, cùng với các nhóm khác.

Chính phủ đã bị chỉ trích vì đã không nỗ lực để ngăn chặn điều này.

“Chúng tôi không có chính sách phân biệt đối xử dựa trên tôn giáo hay chủng tộc”,-Tổng thống Thein Sein nói với Amanpour- “Cuộc bạo động này bắt đầu từ một hành vi phạm tội và sau đó đã dẫn đến bạo lực. Chúng tôi đang làm hết sức mình để có khống chế  bạo lực trong khi vẫn đảm bảo các quy định của pháp luật.”

Tổng thống Obama nói rằng không có lý do gì biện minh cho bạo lực đối với những người vô tội.

“Tất cả các công dân ở nước chúng tôi phải có khả năng được hưởng các quyền cơ bản của họ”, Tổng thống Thein Sein cho biết- “Đồng thời, chúng tôi cũng phải bảo vệ quyền lợi của họ và những quyền theo quy định của pháp luật của chúng tôi.”

Ngay trước chuyến đi này Tổng thống Thein Sein phóng thích hai mươi tù nhân chính trị – như ông thường làm trước các cuộc đàm phán với phương Tây.

Amanpour: Nhưng liệu ông có phóng thích tất cả các tù nhân chính trị còn lại?

“Một số tù nhân mà chúng tôi vẫn còn giam giữ bởi vì họ đã phạm một số tội như giết người, hiếp dâm. Nhưng họ sẽ được phóng thích, dựa trên các khuyến nghị của Ủy ban”- Tổng thống Thein Sein cho biết.

Amanpour: Nhưng ông cảm thấy thoải mái hơn trong bộ quân phục cũ mà ông đã dùng? Hay là trong bộ đồ dân sự mới được may thông qua tiến trình dân chủ?

“Là Tổng thống, tôi có nhiều nhiệm vụ hơn”,-Tổng thống Thein Sein thừa nhận- ” Phục vụ nhân dân và đất nước luôn là một nhiệm vụ nặng nề và là một trách nhiệm nặng nề.”

Viết cho Uyên và Kha

Khi bằng tuổi của các bạn, tôi vẫn đang mải mê thể hiện mình qua những tri thức của thời đại công nghệ, vẫn luôn ôm một khát vọng cháy bỏng là kiếm cho được thật nhiều tiền, mọi ước mơ hoài bão luôn quy về một mối là học cho lỳ, thi cho đỗ để tương lai có nghề xịn mà kiếm tiền. Bằng tuổi các bạn, tôi vẫn còn mải mê với những đam mê của tuổi mới lớn, những ngọt ngào môi tóc, những dỗi hờn yêu đương, những nhu cầu thân xác.

Hôm nay, chứng kiến vụ xử các bạn, chứng kiến những lời tuyên bố dõng dạc của các bạn, tôi giật mình nhìn lại thời thanh xuân của mình mà quay mặt hổ thẹn. Thời đó, tôi đã không nhận ra những điều mà các bạn lúc bằng tuổi này đã nhận ra, tôi đã không dám làm những việc mà bây giờ các bạn đang làm. Tôi đã không nhận ra mình đang sống trong một nhà tù lớn, không nhận ra những lời nói dối trắng trợn của những kẻ đang tâm dâng đất đai biển đảo của tổ quốc cho ngoại bang phương Bắc, không nhận ra bộ não mình đang bị nhồi vào đó một thứ tư tưởng tanh máu của gã khủng bố đỏ Tàu khựa.

Khi nghe các bạn bị tuyên xử 6 và 8 năm tù, tôi đã xót xa nhận ra rằng, nếu như những lớp người như chúng tôi thức tỉnh sớm hơn, biết suy nghĩ và hành động cho quê hương đất nước ở độ tuổi của các bạn, thì giờ đây có lẽ các bạn đã không bị bỏ tù vì lòng yêu nước, mà trái lại, các bạn sẽ được biểu dương như anh hùng Trần Quốc Toản năm xưa đã khắc lên tay hai chữ “sát Thát”.

Cho tôi được nhắc lại lời của Uyên: “Tôi là sinh viên yêu nước, nếu phiên tòa hôm nay kết tội tôi, thì những người trẻ khác sẽ sợ hãi và không còn dám bảo vệ chủ quyền của đất nước. Nếu một sinh viên, tuổi trẻ như tôi mà bị kết án tù vì yêu nước thì thật sự tôi không cam tâm… Việc tôi làm thì tôi chịu, xin nhà cầm quyền đừng làm khó dễ mẹ hay gia đình của chúng tôi. Chúng tôi làm để thức tỉnh mọi người trước hiểm họa Trung Quốc xâm lược đất nước, và cuối cùng là chúng tôi làm xuất phát từ cái tấm lòng yêu nước nhằm chống cái xấu để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp tươi sáng hơn“, và lời của Kha: “Tôi trước sau vẫn là một người yêu nước, yêu dân tộc tôi. Tôi không hề chống dân tộc tôi, tôi chỉ chống đảng cộng sản. Mà chống đảng thì không phải là tội“. Những lời nói cảnh báo đanh thép cho nhà cầm quyền về dã tâm của họ, dã tâm của những kẻ mang thân làm nô lệ cho ngoại bang và mang hung khí ức hiếp đồng bào cùng chủng tộc. Những lời nói ngân lên như tiếng dàn chuông trên tháp giáo đường làm thức tỉnh và vẫy gọi những tâm hồn và trái tim bị tổn thương hãy dũng cảm đứng lên tự giải thoát cho mình và cho quê hương đất nước khỏi một thảm họa nô lệ đỏ.

Đáp lại lời nhắn gửi của các bạn, bản thân tôi sẽ cố hết sức để thức tỉnh những người xung quanh mình, giúp họ nhận ra những giá trị phổ quát của nhân loại về nhân quyền, về tự do, bác ái, giúp họ nhận ra mối hiểm họa nô lệ của đất nước và dân tộc. Các bạn đã chấp nhận vào  nhà tù nhỏ để thức tỉnh lương tri của những người đang sống trong nhà tù lớn, thì tôi sẽ tiếp sức để thông điệp của các bạn được lan truyền nhanh hơn, rộng hơn và mãnh liệt hơn. Hẹn gặp các bạn!

Đoản khúc buồn 30/4

Khi tôi ra đời, đất nước đã thống nhất được 5 năm. Khi tôi là một đứa trẻ, với những gì tôi được học trong nhà trường thì ngày thống nhất 30/4 được mô tả như là ngày hội chiến thắng của toàn dân tộc. Theo năm tháng, tôi lớn dần và những góc nhìn khác biệt về cuộc chiến bắc nam lần thứ 2 (lần thứ nhất là Trịnh-Nguyễn phân tranh) làm cho tôi hoài nghi ý nghĩa của cuộc chiến.

Câu hỏi day dứt mãi trong tôi là: Ai là người chiến thắng thực sự trong cuộc chiến này? Không thể nói chiến thắng này là của toàn dân tộc vì sau cuộc chiến hơn 3 triệu người đã phải rời bỏ tổ quốc ra đi, nhiều người trong số họ đã bỏ mạng trên biển, nhiều người ở lại đã bị giam cầm tra tấn trong các trại tập trung hay bị đẩy lên vùng ma thiêng nước độc, không thể nói chiến thắng là của họ. Không thể nói chiến thắng này là của dân miền bắc vì nếu nói thế thì hóa ra dân bắc xâm lược miền nam à? Chiến thắng này có thể gán cho những người cộng sản được không? Có thể, bởi vì sau cuộc chiến toàn đất nước đã bị nhuộm đỏ. Tuy nhiên, nếu xem chiến thắng này là của Đảng cộng sản thì cái giá mà dân tộc phải trả là quá đắt: đó là từ đó trở đi dân tộc lại tiếp tục rơi vào vòng nô lệ của một thứ tư tưởng ngoại lai là chủ nghĩa Mac-Lê-Mao, và đẩy dân tộc tới chỗ bị người tàu chi phối ngay trong bộ não. Tôi nghĩ chúng ta đã mất biển đảo và một phần đất liền, điều đó thật tệ, nhưng điều tệ hơn là cái đầu của chúng ta đặc biệt của những nhà lãnh đạo chẳng có định hướng gì cả ngoài việc ngó sang bên Tàu xem họ làm gì để làm theo. Tất cả những biểu hiện của tư tưởng chống lại sự hán hóa trong bộ não luôn bị đàn áp thẳng tay và cực kỳ thô bạo. Nhiều người đã bảo, chiến thắng 30/4 đánh dấu một thời kỳ Bắc thuộc mới. Tóm lại, chiến thắng này chỉ có thể xem là thuộc về những người cộng sản quốc tế (những người Cs Liên Xô+Trung Quốc + Việt nam) chứ không thể xem là của riêng người CS Việt Nam. Tôi đã khóc khi nghĩ về thân phận của dân tộc mình, đất nước mình, đã bị các đế quốc (Pháp, Mỹ, Tàu) xem như một cô điếm đẹp và hiền lành để chúng tranh giành với nhau (các bạn có thể xem phim “Một người Mỹ trầm lặng” để hiểu thêm cái paradigm của mấy đế quốc đó đối với dân tộc Việt), trong khi đó những đại diện ưu tú của dân tộc luôn tìm cách bỏ tổ quốc ra đi để bán chất xám cho chính các đế quốc đó.

Vậy, những ai có thể tự hào về chiến thắng 30/4? Như trên đã nói, chiến thắng này không thuộc về dân tộc Việt, cũng không thuộc hoàn toàn về những người cộng sản Việt, cho nên không ai có thể tự hào về chiến thắng 30/4. Vậy có nên gọi 30/4 là ngày “Chiến Thắng” hay không? Theo tôi là hoàn toàn không nên. Việc thống nhất đất nước là cần thiết dù cho chúng ta đã chọn một cách thức tồi tệ để có được nó. Chúng ta vẫn có thể kỷ niệm 30/4 và chỉ nên gọi đó là ngày “thống nhất đất nước” để tránh kích động hận thù trong quá khứ. Liệu chúng ta có thể hàn gắn được vết thương chiến tranh đã hằn sâu trong tâm hồn của người dân ở hai bên chiến tuyến? Đến bây giờ 38 năm sau ngày thống nhất, vết thương tâm hồn đó lại mưng mủ và làm đau nhói tim ta! Có thể hàn gắn được vết thương đó không, khi mà cứ đến ngày này, bên chiến tuyến này vẫn linh đình kỷ niệm “chiến thắng” một cách ngạo mạn, còn bên chiến tuyến kia lại ôm sầu của một ngày “quốc hận”.

Tôi vẫn nghĩ lạc quan là vẫn có thể hàn gắn được vết thương này. Tuy nhiên, để làm được điều đó, tức là để hòa giải dân tộc thì cần một sự dũng cảm và quyết đoán của cả hai phía, và đặc biệt là của những người cộng sản lãnh đạo đất nước hiện thời. Điều đầu tiên cần làm là đánh giá lại cuộc chiến một cách khách quan thông qua đối thoại bình đẳng giữa những người ở hai bên chiến tuyến. Những người cộng sản cần phải dũng cảm thừa nhận một cách thành thực rằng họ đã thắng trong chiến tranh nhưng đã thất bại trong hòa bình, trong điều hành đất nước. Và họ cần phải hòa giải chân thành bằng cách chia sẻ hay nhường lại quyền điều hành đất nước cho những người có tài năng và tâm huyết bất kể đó là người thuộc chiến tuyến hay đảng phái nào.

Bàn về niềm tin của ban biên tập CVHP

 

Như vậy sau hơn hai tháng khởi xướng và đăng các ý kiến thảo luận, ban biên tập trang Cùng Viết Hiến Pháp (CVHP) đã đưa ra đề xuất sửa đổi Hiến pháp của mình. Bỏ qua những quan điểm mà các trang mạng và các nhóm ý kiến khác cũng đã nêu, như là về quân đội, về sở hữu đất đai.., còn lại một quan điểm quan trọng mang tính “to be or not to be” đó là quan điểm về điều  4, thì ban biên tập của CVHP cũng đã đưa ra khẳng định rất rõ ràng: Ủng hộ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, và ủng hộ việc hiến định nó trong hiến pháp.  Lý do chính để Ban biên tập CVHP tiếp tục ủng hộ sự lãnh đạo duy nhất của Đảng CS là: “Chúng tôi cũng cho rằng trong hoàn cảnh hiện tại, việc bỏ Điều 4 có thể dẫn đến những hậu quả chưa thể lượng định đối với tiến trình phát triển trong ổn định của đất nước.”(xem  http://hienphap.net/y-kien/)

Tóm lại, bản thân Ban biên tập CVHP cũng không thể lượng định được việc bỏ điều 4 sẽ dẫn đến những hậu quả gì. Câu hỏi mà một người bình thường có thể đặt ra là: Việc bỏ điều 4 có thể mang lại những ích lợi gì cho tiến trình phát triển của đất nước hay không? Đã là những GS có uy tín trong khoa học như những người đã khởi xướng trang CVHP, tất nhiên cũng sẽ đặt câu hỏi như vậy, vì đơn giản đó là hai mặt của cùng một vấn đề. Rất tiếc là ngay cả những thảo luận về sự cần thiết của việc bỏ điều 4 đã không được các thành viên Ban biên tập CVHP tham gia. Ban biên tập chỉ đăng những thảo luận của các tập thể hay cá nhân như là của  72 vị Trí thức, của  GS Hoàng Xuân Phú, TS Nguyễn Thị Từ Huy, hay của  bản thân tôi về việc cần thiết phải bỏ điều 4 ra khỏi hiến pháp nếu không muốn bản hiến pháp trở nên một văn bản tự mâu thuẫn. Tuy nhiên bản thân Ban biên tập lại không có ý kiến gì về tính logic của việc bỏ/giữ điều 4 cả.  Ban biên tập chỉ thừa nhận việc giữ điều 4 như là một bảo đảm để xã hội có thể phát triển ổn định. Xin thưa với Ban biên tập  CVHP, việc “giữ điều 4 như là một bảo đảm để xã hội có thể phát triển ổn định” chỉ là một niềm tin của Ban biên tập, nó (việc giữ điều 4) không được chứng minh bằng lập luận có cơ sở cũng như bằng kinh nghiệm từ các nước phát triển và các nước đang phát triển như ở Đông Âu hay Châu Á. Ngay cả bản khảo sát ý kiến độc giả của CVHP cũng cho thấy 86% là đồng ý bỏ điều 4 ra khỏi bản hiến pháp. Tôi muốn nói rằng, việc đưa ra những đề xuất chỉ dựa trên niềm tin là điều hoàn toàn không nên nhất là đối với các GS đã nổi danh trong khoa học  như là các nhân vật đã khởi xướng CVHP.

Tôi không hiểu vì sao các GS của trang CVHP lại có niềm tin rằng duy trì một chế độ chỉ cho phép duy nhất một Đảng cộng sản lãnh đạo thì đất nước sẽ phát triển ổn định. Chẳng lẽ các GS không nhận ra sự tha hóa khắp mọi ngõ ngách của đời sống tinh thần cũng như vật chất, kinh tế, giáo dục của đất nước. Chẳng lẽ các GS không nhận ra nguyên nhân cốt lõi của sự tha hóa đó? Chẳng lẽ các GS tin rằng hãy để cho duy nhất Đảng Cộng sản lãnh đạo thì sẽ khắc phục được sự tha hóa đó, trong lúc sự tha hóa mạnh mẽ nhất chính là sự tha hóa từ trong nội bộ Đảng Cộng sản, mà theo chủ tịch Trương Tấn Sang, đó là sự tha hóa của bầy sâu. Tôi nói thẳng, nếu các GS chưa nhận ra nguyên nhân chính của sự tha hóa đó thì hãy lên tiếng thảo luận cùng các bậc trí thức khác trước khi đưa ra đề xuất dựa trên niềm tin như vậy.

Tôi không muốn truy nguyên nguồn gốc của niềm tin đó của các GS, bởi vì việc tin vào cái gì là thuộc vào quyền của mỗi người. Mỗi người đều có một niềm tin của riêng mình. Ngay cả khi không tin gì cả thì cũng lấp ló một niềm tin đó là: tin là không thể tin được (I believe that I cannot believe).  Tuy nhiên, tôi muốn nói rằng: việc đề xuất một vấn đề để cải tạo xã hội (như là đề xuất sửa đổi hiến pháp) thì phải dựa vào những quan sát khách quan, những trải nghiệm lịch sử và những lập luận có cơ sở, chứ hoàn toàn không nên dựa vào niềm tin.

Điều cuối cùng tôi muốn nhắn tới các vị GS của trang CVHP là: Các vị là những người có uy tín trong khoa học cho nên niềm tin của quý vị có thể được một số không nhỏ những tầng lớp nhân dân xem như chân lý và vì thế sẽ dễ dàng bị những nhà cầm quyền mỵ dân lợi dụng, vì thế các vị hãy cân nhắc trước khi đưa ra những đề xuất chỉ dựa trên niềm tin như vậy. Tốt hơn hết, tôi muốn nhắc lại, là các vị hãy thảo luận với các bậc trí thức khác trước khi đưa ra những đề xuất dựa trên niềm tin của mình.

 

RWBY: Trailer Bạch Tuyết

Khoảng lặng kết thúc: Chúa sai đi loan báo tin mừng

Đây là lần đầu tiên có một vị Giáo Hoàng nguồn gốc Mỹ Latinh: Jorge Mario Bergoglio từ Argentina giờ đây là người đứng đầu của Giáo Hội Công Giáo. Ngài đã được gọi tên là Francis I. Ngài được tiếng là người khiêm tốn, gần gũi với nhân dân, và quan tâm đến vấn đề môi trường.

Xem video